I. Lịch khám của Bệnh viện nhi đồng 1 có khám thứ 7, chủ nhật không?

Lịch làm việc của bệnh viện Nhi Đồng 1 làm việc vào tất cả các ngày trong tuần, từ thứ 2 đến thứ 7 Chủ Nhật và cả các ngày lễ, thời gian sáng 7h – 11h30, chiều 13h – 16h.. Như vậy là bệnh viện Nhi Đồng 1 khám cả thứ 7 và chủ nhật nhé các bạn.

>>> Bạn nên xem thêm “Quy trình khám thường, khám dịch vụ ở bệnh viện Nhi Đồng 1” để nắm chi tiết các quy trình khám nhé.

Bệnh viện Nhi Đồng 1 có khám chủ nhật không, có khám thứ 7 không
Bệnh viện Nhi Đồng 1 có khám chủ nhật không, có khám thứ 7 không

II. Địa chỉ Bệnh viện Nhi Đồng 1 nằm ở đâu?

  • Địa chỉ: 341 Sư Vạn Hạnh, Phường 10, Quận 10, TP Hồ Chí Minh
  • Điện thoại: (028) 39271119 – Fax: (028) 39270053
  • Website: www.nhidong.org.vn
  • Email: bvnhidong@nhidong.org.vn
  • Đường dây tham vấn sức khỏe trẻ em: 1900561237

Đăng ký khám theo hẹn:

– Khu khám 5A: (028) 1080

– Khu khám theo yêu cầu 2: 19007289

  • Đường dây nóng: 0909.124.004
  • Bộ phận Chăm sóc khách hàng: (028) 39272726

III. Lịch khám chuyên khoa tại bệnh viện Nhi Đồng 1

Mời bạn xem tại http://nhidong.org.vn/chuyen-muc/lich-kham-chuyen-khoa-c1066-383.aspx

IV. Bệnh viện nhi đồng 1 – xây dựng và phát triển

Trước 30/04/1975, Bệnh viện Nhi Đồng là bệnh viện chuyên khoa Nhi duy nhất cho cả miền Nam điều trị cho bệnh nhi từ sơ sinh đến 12 tuổi về nội, ngoại khoa và các chuyên khoa khác của nhi. Bệnh viện còn là nơi giảng dạy cho sinh viên y khoa, học viên của trường Quản lý, thủ thư bệnh viện, cán sự y tế, cán sự điều dưỡng, Nữ hộ sinh, Tá viên y tế các ngành. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Bệnh viện Nhi Đồng được Bộ Y tế, Xã hội và Thương binh tiếp quản với số nhân viên là 469 người, thực hiện đúng 5 chức năng nhiệm vụ do Bộ Y tế quy định: (1) Khám – điều trị, (2) Phòng bệnh, (3) Huấn luyện đào tạo cán bộ, (4) Nghiên cứu khoa học, (5) Công tác tuyến trước và ngoại viện.

Đồng thời, Bệnh viện xây dựng tổ chức Đảng, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên, lực lượng Phòng cháy chữa cháy, lực lượng Dân quân tự vệ. Cuối giai đoạn 1975-1984, Bệnh viện đã xây dựng đề án phát triển với mục tiêu hướng về cộng đồng, kết hợp công tác chăm sóc điều trị với hoạt động phòng bệnh và truyền thông giáo dục sức khỏe trên báo chí, truyền hình, tạo tiền đề quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển bệnh viện trong những năm tiếp theo. Có thể nhận thấy Bệnh viện đã có những giai đoạn phát triển như sau.

GIAI ĐOẠN 1985 – 1994: PHÁT TRIỂN NHI KHOA ĐẠI CHÚNG

Bệnh viện tập trung vào mục tiêu phát triển nhi khoa đại chúng, trở thành Trung tâm huấn luyện, hướng trợ về các chương trình sức khỏe trẻ em cho khu vực phía Nam: Chương trình Phòng chống tiêu chảy cấp (CDD), Chương trình Phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI), Chương trình Phòng chống Sốt xuất huyết, Chương trình Phòng chống Suy dinh dưỡng trẻ em, Chương trình Xử trí lồng ghép các bệnh thường gặp ở trẻ em (IMCI). Bệnh viện đã thành lập các đơn vị huấn luyện cho đội ngũ nhân viên y tế khu vực phía Nam về các chương trình nói trên theo đúng hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới, qua đó, đẩy mạnh các hoạt động hướng trợ tuyến dưới, đưa hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu gắn liền với việc mở rộng nhiều đơn vị điều trị chuyên khoa mới. Trong năm 1993, Bệnh viện đã phát triển phẫu thuật tổng quát, niệu và tai mũi họng, sinh thiết gan và xét nghiệm sinh hoá tự động, góp phần phẫu thuật thành công tách đôi cặp song sinh dính Song – Pha tại Bệnh viện.

GIAI ĐOẠN 1995 – 2004: PHÁT TRIỂN NHI KHOA CHẤT LƯỢNG

Trong giai đoạn này, để thực hiện 7 chức năng nhiệm vụ theo Quy chế bệnh viện do Bộ Y tế ban hành (Cấp cứu – khám bệnh – chữa bệnh, Đào tạo cán bộ y tế, Nghiên cứu khoa học về y học, Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật, Hợp tác quốc tế, Quản lý kinh tế trong Bệnh viện), Bệnh viện thành lập đầy đủ các phòng chức năng theo quy định là: Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Phòng Điều dưỡng, Phòng Chỉ đạo tuyến, Phòng Vật tư – Trang thiết bị y tế, Phòng Hành chánh Quản trị, Phòng Tổ chức Cán bộ và Phòng Tài chính Kế toán.

Về công tác quản lý chuyên môn, bệnh viện tập trung vào mục tiêu phát triển nhi khoa chất lượng, nghiên cứu và triển khai nhiều hoạt động mới hướng đến cải tiến chất lượng chăm sóc, đổi mới công nghệ, phát triển nhiều kỹ thuật cao làm nền tảng cho phát triển chuyên sâu. Bệnh viện thành lập nhiều khoa mới: khánh thành “Bệnh viện trong ngày” (1997), thành lập khoa Hồi sức Sơ sinh, Đơn vị tâm lý, Đơn vị Thính học và phát triển mở rộng khoa Dinh dưỡng, khoa Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng. Mạng máy tính bệnh viện đầu tiên của cả nước được xây dựng cuối năm 1994 và đi vào hoạt động, được các đơn vị y tế trong cả nước tham quan học tập, đưa Công nghệ thông tin ứng dụng vào công tác quản lý bệnh viện. Đồng thời, bệnh viện cũng áp dụng y học chứng cứ vào công tác điều trị và chăm sóc; triển khai chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, chương trình quản lý chất lượng theo hướng ISO; đẩy mạnh chỉ đạo hỗ trợ tuyến và hợp tác quốc tế.

GIAI ĐOẠN 2005 ĐẾN NAY: PHÁT TRIỂN NHI KHOA CHUYÊN SÂU

Trong giai đoạn này, Bệnh viện tập trung vào mục tiêu phát triển nhi khoa chuyên sâu với 4 mũi nhọn ưu tiên là Sơ sinh, Hồi sức Cấp cứu, Phẩu thuật can thiệp (đặc biệt trong lĩnh vực Tim Mạch trẻ em), Bệnh lý nhiễm trùng.

Về cơ sở vật chất, bước đầu, bệnh viện đã cải tạo, nâng cấp toàn bộ hạ tầng cơ sở, đầu tư nhiều trang thiết bị mới, hiện đại cũng như đang đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu chăm sóc điều trị cho bệnh nhi trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay.

Về phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo nhu cầu khám chữa bệnh tăng cao, số cán bộ nhân viên từ 1.080 (2005) đến cuối tháng 4/2018 là 1.645 (với 1.206 nữ), trong đó có 348 Bác sĩ (với 02 Phó Giáo sư; 15 Tiến sĩ; 97 Thạc sĩ; 83 Chuyên khoa 1; 21 Chuyên khoa 2) và 686 điều dưỡng (có 02 Thạc sĩ, 147 ĐD đại học) .

Về mặt tổ chức, đáp ứng nhu cầu quản lý phát triển, Bệnh viện thành lập Phòng Công nghệ Thông tin (2011), Phòng Quản lý chất lượng (2013), Phòng Công tác xã hội (2016) nâng tổng số các phòng chức năng của bệnh viện lên 10 phòng. Năm 2011, Bệnh viện đã thành lập Khoa Tâm lý, Đơn vị nghiên cứu khoa học, Thư viện điện tử, và Đơn vị Đào tạo liên tục (2012), Đơn vị Giám định Bảo hiểm Y tế (2013), hoàn thiện Khoa Cấp cứu và Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc, tách khoa Phỏng – Chỉnh hình thành 2 khoa là khoa Phỏng – Tạo hình và khoa Chấn thương – Chỉnh hình (2013).

Có thể nêu khái quát những thành tựu nổi bật trong giai đoạn nầy như sau:

Lĩnh vực sơ sinh: Năm 2005, khu chuyên sâu sơ sinh đầu tiên của cả nước ra đời với qui mô 150 giường bệnh. Các kỹ thuật hồi sức sơ sinh mới như thở máy rung tần số cao (HFO), thở máy khí NO, làm lạnh toàn thân điều trị bệnh lý não do thiếu ôxy, phẫu thuật dị tật bẩm sinh cũng đã được phát triển trong giai đoạn này nhằm giảm tỉ lệ tử vong sơ sinh (chiếm 1/4 số tử vong tại bệnh viện).

Lĩnh vực Hồi sức – Cấp cứu: Khu Cấp cứu và Hồi sức tích cực – Chống độc có qui mô 70 giường với nhiều kỹ thuật hồi sức hiện đại được áp dụng, cứu sống nhiều trường hợp bệnh nặng, góp phần giảm đáng kể tỉ lệ tử vong trẻ em.

Lĩnh vực Phẫu thuật chuyên sâu: Từ 2004, Bệnh viện đẩy mạnh phát triển phẫu thuật nội soi, mở rộng thực hiện phẫu thuật lồng ngực, ngoại thần kinh, niệu khoa, Răng Hàm Mặt. Ngày 01 tháng 06 năm 2007 Bệnh viện bắt đầu thực hiện phẫu thuật tim hở, đặt máy tạo nhịp tạm thời /vĩnh viễn. Đơn vị Thông tim can thiệp thành lập và đi vào hoạt động từ 2009 giúp giảm số trường hợp tim bẩm sinh phải phẩu thuật.

Lĩnh vực bệnh lý nhiễm trùng: Năm 2007, Bệnh viện Phát triển kỹ thuật Real-time PCR phân lập virus EV71 góp phần giảm tỉ lệ chẩn đoán viêm não không rõ tác nhân từ 70% xuống còn 30%. Đặc biệt, nhờ áp dụng các kỹ thuật thở áp lực dương liên tục qua mũi, đo áp lực tĩnh mạch trung tâm, theo dõi huyết áp động mạch xâm lấn, đo và theo dõi áp lực bàng quang, thở máy với biện pháp huy động phế nang, lọc máu liên tục,… mà nhiều bệnh nhi bị Tay Chân Miệng, sốt xuất huyết Dengue nặng đã được cứu sống, làm giảm tử vong do sốt xuất huyết xuống dưới 0,1% tại khu vực phía Nam, giảm tử vong do Tay Chân Miệng.

Ngoài những mũi nhọn chuyên sâu nêu trên, trong giai đoạn này, Bệnh viện còn phát triển các kỹ thuật chuyên sâu khác, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh hoạt động trợ giúp bệnh nhân nghèo, hoàn thiện mô hình chăm sóc toàn diện và mô hình quản lý chất lượng bệnh viện, đẩy mạnh ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào công tác quản lý.

Trong suốt quá trình phát triển, Bệnh viện luôn định hướng mục tiêu phát triển bền vững với 3 đặc trưng: Đại chúng, Khoa học và Nhân văn. Trên cơ sở khoa học trong chuyên môn, khoa học trong quản lý, đảm bảo công bằng y tế, chăm lo cho bệnh nhân nghèo, xây dựng môi trường thân thiện, gắn hỗ trợ tuyến trước, hướng về cộng đồng, Bệnh viện vừa phát triển các mũi nhọn chuyên sâu vừa thực hiện y học hướng về cộng đồng tạo nền tảng cho xây dựng và phát triển liên tục.

Bệnh viện được xếp hạng là bệnh viện chuyên khoa nhi hạng 1, tuyến cuối về nhi khoa; do Sở Y tế Tp.Hồ Chí Minh trực tiếp quản lý; được giao nhiệm vụ KCB cho trẻ em của Tp.Hồ Chí Minh và các tỉnh ở khu vực phía Nam; được Bộ Y tế phân công chỉ đạo tuyến cho khu vực Tây Nam Bộ, thực hiện Đề án bệnh viện vệ tinh cho 5 tỉnh Long An, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ và Cà Mau. Là trung tâm đào tạo thực hành cho Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Khoa Y – Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, Bệnh viện còn là cơ sở đào tạo y khoa liên tục do Bộ Y tế cấp mã đào tạo (mã số: B38), là nơi tiếp nhận sinh viên quốc tế đến tham quan, học tập chuyên ngành nhi khoa. Bệnh viện cũng là một trung tâm hợp tác nghiên cứu lâm sàng về nhi khoa với các viện, bệnh viện đầu ngành trong cả nước, Tổ chức Y tế Thế giới, các đại học và viện nghiên cứu của nhiều nước phát triển trên thế giới.

Với mục tiêu hướng về cộng đồng, thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế hiệu quả, phát triển mạnh các chuyên khoa sâu, xã hội hóa tốt công tác chăm lo cho bệnh nhân nghèo, giữ vững công bằng y tế trong bệnh viện, tích cực hỗ trợ mạng lưới nhi khoa tuyến trước, trên nền tảng phát triển liên tục và bền vững vì các thế hệ tương lai đất nước, Bệnh viện Nhi Đồng 1 quyết tâm thực hiện các hướng đi đúng đắn, phù hợp với chiến lược sức khỏe trẻ em của Tổ chức Y tế Thế giới, chiến lược sức khỏe quốc gia trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nguồn: http://nhidong.org.vn

Bệnh viện Nhi Đồng 1 có khám chủ nhật không, có khám thứ 7 không
5 (100%) 2 votes
Hãy tham gia thảo luận ngay bên dưới và cho chúng tôi biết ý kiến của bạn nhé !!! Tổng hợp kiến thức bệnh lý đau dạ dày, đau bao tử cần biết. Thông tin sức khỏe và đời sống, sức khỏe gia đình online.