Thuốc ức chế bơm proton (PPI) là một trong những thuốc được sử dụng rộng rãi nhất trong thực hành lâm sàng. PPI có hiệu quả cao trong việc làm giảm các triệu chứng gây ra do tăng tiết acid dịch vị và nhìn chung được dung nạp khá tốt. Tuy nhiên, không nên kê đơn PPI vô thời hạn mà không đánh giá lại người bệnh. PPI nên được dùng ở liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể.

Việc sử dụng “khi cần” có thể phù hợp hơn việc dùng hàng ngày với một số bệnh nhân. Bệnh nhân nên được cảnh báo về hiện tượng tăng tiết acid hồi ứng thường xuất hiện thậm chí trong vòng 4 tuần sau khi ngừng điều trị. Nhiều bệnh nhân có thể kiểm soát các triệu chứng sau khi ngừng thuốc này bằng các thuốc thay thế khác như antacid. Cùng tìm hiểu cơ chế tác dụng của thuốc ức chế bơm proton này nhé.

Dàn ý nội dung bài viết tại đây

I. Tìm hiểu về cơ chế tác dụng của thuốc ức chế bơm proton (PPI) trong điều trị bệnh dạ dày

Hiện nay thuốc ức chế bơm Proton (thuốc PPI) được sử dụng rất rộng rãi trong điều trị các bệnh lý ở dạ dày như ung thư dạ dày, viêm loét dạ dày tá tràng hay trào ngược thực quản dạ dày… Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu rõ hơn về loại thuốc tân dược này để việc sử dụng thuốc được an toàn và mang lại hiệu quả cao.

Hiện nay thuốc ức chế bơm Proton ( thuốc PPI) được sử dụng rất rộng rãi trong điều trị các bệnh lý ở dạ dày như ung thư dạ dày, viêm loét dạ dày
Hiện nay thuốc ức chế bơm Proton ( thuốc PPI) được sử dụng rất rộng rãi trong điều trị các bệnh lý ở dạ dày như ung thư dạ dày, viêm loét dạ dày

1. Thuốc ức chế bơm proton PPI là gì?

Thuốc ức chế bơm Proton hay thuốc PPI là tên gọi chung của các loại thuốc có tác dụng làm giảm việc sản xuất axit trong dạ dày bằng cách ngăn chặn enzyme trong thành dạ dày sản sinh axit.

Chúng ta biết rằng việc dư thừa axit dạ dày là một trong những nguyên nhân gây ra hầu hết các vết loét trong thực quản , dạ dày và tá tràng. Như vậy việc ứng dụng thuốc PPI trong điều trị dạ dày sẽ giúp ngăn chặn sự phát triển của các vết loét cho phép tổn thương nhanh được chữa lành.

2. Thuốc ức chế bơm Proton được chỉ định cho các trường hợp nào?

Thuốc ức chế bơm proton được sử dụng để dự phòng và điều trị các chứng bệnh liên quan đến axit như:

  • Bệnh đau dạ dày
  • Ung thư dạ dày tá tràng, ung thư thực quản
  • Viêm loét dạ dày tá tràng
  • Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD)
  • Hội chứng Zollinger-Ellison

Ngoài ra, chúng cũng được sử dụng kết hợp với thuốc kháng sinh để diệt trừ Helicobacter pylori – một loại vi khuẩn cùng với axit gây ra các vết loét trong dạ dày và tá tràng.

3. Cơ chế tác dụng của thuốc ức chế bơm proton PPI như thế nào?

PPI là các tiền thuốc. Sau khi uống, thuốc được chuyển từ dạng không có hoạt tính trở thành dạng có hoạt tính. PPI không bền trong môi trường acid nên được bào chế ở dạng bao tan trong ruột để bảo vệ thuốc. Sau khi đi qua dạ dày, màng bao sẽ tan rã tại ruột non, PPI được hấp thu vào máu nơi chúng có thời gian bán thải tương đối ngắn, khoảng 1-1,5 giờ.

Thuốc ức chế bơm proton (PPI – Proton-pump inhibitor) xuất hiện trên thị trường từ những năm cuối thập kỉ 80 của thế kỉ trước
Thuốc ức chế bơm proton (PPI – Proton-pump inhibitor) xuất hiện trên thị trường từ những năm cuối thập kỉ 80 của thế kỉ trước

Hiệu quả của PPI kéo dài hơn nhiều khoảng thời gian này, do chất chuyển hóa có hoạt tính liên kết không thuận nghịch với bơm proton H+/K+-ATPase ở tế bào viền, ngăn cản sự bài xuất của các ion H+ vào dịch vị trong 10-14 giờ. Tác dụng ức chế tiết acid của PPI cần ít nhất sau 5 ngày để đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, đây là tác dụng không hoàn toàn; khoảng 1/4 số bơm proton trong mỗi tế bào viền vẫn hoạt động ngay cả khi dùng liều cao PPI.

Gastrin là hormon kích thích tế bào viền tiết acid dịch vị. Khi PPI ức chế sản xuất acid dịch vị, gastrin sẽ được giải phóng nhiều hơn để chống lại sự giảm acid của dạ dày. Gần đây, một số nghiên cứu gợi ý rằng khi ngừng sử dụng PPI, cơ thể sẽ tiếp tục sản xuất gastrin với lượng cao hơn so với trước khi điều trị, gây hiện tượng tăng tiết acid hồi ứng.

4. Kê đơn PPI khi nào, như thế nào được coi là phù hợp?

Khi bắt đầu sử dụng PPI, cần trao đổi với bệnh nhân về liệu trình điều trị dự kiến, nhằm giúp họ hiểu quá trình điều trị không kéo dài vô thời hạn, trừ khi còn có chỉ định tiếp tục dùng thuốc, cũng như giúp trao đổi lại về việc hiệu chỉnh liều và ngừng điều trị dễ dàng.

Đối với đa số bệnh nhân, liều khởi đầu phù hợp là omeprazol 20 mg, 1 lần/ngày (tùy thuộc chỉ định). Với một số bệnh nhân, có thể cần tăng liều lên 40 mg (dùng hàng ngày) nếu không kiểm soát được triệu chứng, nhưng liều khởi đầu omeprazol 40 mg (1 lần/ngày) hiếm khi được chỉ định trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Sau đó, tùy theo chỉ định, có thể giảm liều PPI, ví dụ: giảm liều omeprazol từ 20 mg xuống 10 mg (dùng hàng ngày), hoặc dùng “khi cần” nếu các triệu chứng đã được kiểm soát thích hợp.

5. Khi nào có thể cân nhắc ngừng sử dụng PPI?

Nhiều bệnh nhân như bệnh nhân thực quản Barrett cần sử dụng PPI kéo dài và sẽ không phù hợp nếu ngừng thuốc. Với các bệnh nhân khác, như có tiền sử viêm loét thực quản nặng, chỉ nên cân nhắc ngừng PPI sau khi trao đổi với bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa.

Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể giảm liều PPI đã được kê đơn, như giảm liều omeprazol từ 20 mg (1 lần/ngày) xuống 10 mg (1 lần/ngày) hoặc chuyển sang chế độ điều trị “khi cần”. Với bệnh nhân dùng PPI kéo dài, nên đánh giá lại sự cần thiết phải tiếp tục điều trị trong tất cả các lần tái khám.

Kỳ vọng của bệnh nhân lần đầu được kê đơn PPI đóng vai trò quan trọng trong việc bệnh nhân chấp thuận đề nghị giảm liều hoặc ngừng PPI. Chưa có bằng chứng rõ ràng về chế độ tốt nhất để giảm liều PPI, nhưng nhìn chung, nên cân nhắc giảm liều từ từ khi đã kiểm soát được các triệu chứng.

Ví dụ, một bệnh nhân được kê đơn omeprazol 20 mg, dùng hàng ngày, trong 4-6 tuần để kiểm soát triệu chứng của GORD. Bệnh nhân có đáp ứng điều trị tốt và triệu chứng được cải thiện. Sau đó, giảm liều xuống còn 10 mg, dùng hàng ngày, trong 2 tuần, rồi ngừng thuốc. Bệnh nhân được kê đơn omeprazol 20 mg dùng “khi cần” nếu các triệu chứng tái phát.

6. Tính an toàn của thuốc ức chế bơm proton PPI

Tỷ lệ gặp tác dụng bất lợi liên quan đến PPI tương đối thấp. Tuy nhiên, cần trao đổi các nguy cơ này với bệnh nhân và cân nhắc giám sát định kỳ đối với các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Tất cả các PPI đều có thể gây đau đầu và các biến cố bất lợi trên tiêu hóa, như buồn nôn, nôn, đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy hoặc táo bón. Các biến cố bất lợi trên tiêu hóa của PPI đôi khi có thể bị nhầm lẫn với triệu chứng của GORD, làm cho bác sĩ điều trị tăng liều PPI đang dùng cho bệnh nhân vì cho rằng thuốc chưa đạt hiệu quả mong đợi. Ở mức độ ít gặp hơn, dùng PPI có thể gây khô miệng, phù ngoại vi, hoa mắt, rối loạn giấc ngủ, mệt, rối loạn cảm giác, đau khớp, đau cơ, phát ban, ngứa và viêm thận kẽ.

Chưa phát hiện mối liên quan giữa PPI và tăng tỷ lệ dị tật thai nhi trên người. Do đó, PPI được coi là an toàn trong thai kỳ. Có thể cân nhắc đến các liệu pháp khác phù hợp cho phụ nữ mang thai cần thuốc ức chế acid bao gồm antacid (calci carbonat, alginat) hoặc ranitidin trước. Nếu những thuốc này không đạt hiệu quả mong muốn thì cân nhắc sử dụng PPI.

Nên tránh dùng PPI liều cao hơn ở bệnh nhân có bệnh gan mức độ trung bình hoặc nặng, do giảm chuyển hóa ở gan có thể gây tích lũy thuốc.

6.1 Tăng nguy cơ nhiễm trùng

Tác dụng ức chế tiết acid dịch vị của PPI làm tăng nguy cơ nhiễm trùng từ các căn nguyên ở đường tiêu hóa hay hô hấp, dù nguy cơ khá thấp. Nguy cơ cao hơn được cho là do giảm tác dụng bảo vệ dạ dày của “bức tường acid”, khiến các mầm bệnh sống có thể di chuyển lên hoặc xuống trong đường tiêu hóa và xâm lấn đường hô hấp dưới.

Nếu có thể, cân nhắc trì hoãn sử dụng PPI cho bệnh nhân có nguy cơ nhiễm trùng tăng, như bệnh nhân cao tuổi có người nhà bị cúm, bệnh nhân đang dùng kháng sinh. Chưa rõ việc ngừng sử dụng PPI tạm thời trong thời gian bệnh nhân có nguy cơ nhiễm trùng cao có đem lại lợi ích hay không.

Một phân tích gộp gồm 12 nghiên cứu, bao gồm gần 3000 bệnh nhân cho thấy điều trị ức chế tiết acid làm tăng nguy cơ nhiễm Clostridium difficile. Nguy cơ này tăng 1,7 lần khi dùng PPI 1 lần/ngày và tăng 2,4 lần nếu dùng nhiều hơn 1 lần/ngày. Sáu nghiên cứu đã phát hiện nguy cơ nhiễm Salmonella, Campylobacter và Shigella tăng cao hơn 3 lần ở bệnh nhân dùng PPI.

Một nghiên cứu khác trên 360.000 người phát hiện mối liên quan giữa việc sử dụng PPI và tăng nguy cơ viêm phổi. Nguy cơ này cũng tăng lên khi tăng liều PPI. Tỷ lệ mắc viêm phổi ở bệnh nhân dùng PPI là 2,45 trên 100 bệnh nhân – năm và ở bệnh nhân không dùng PPI là 0,6 trên 100 bệnh nhân – năm. Một nghiên cứu khác phát hiện khả năng bệnh nhân bị viêm phổi tăng 5 lần trong tuần đầu điều trị với PPI, sau đó giảm còn 1,3 lần ở bệnh nhân được điều trị từ 3 tháng trở lên.

6.2 Kém hấp thu các chất dinh dưỡng

Acid dịch vị làm tăng độ tan của các chất ở dạng muối không tan (như calci, sắt) và giúp hấp thu các vitamin liên kết với protein (như vitamin B12). Do đó, việc giảm tiết acid dịch vị có thể làm giảm hấp thu một số chất dinh dưỡng, dẫn đến tăng tỷ lệ bệnh liên quan đến kém hấp thu.

Tuy nhiên, mối liên quan này hiện vẫn còn đang tranh cãi. Ở đa số trường hợp, bệnh nhân có thể yên tâm rằng chế độ ăn uống cân bằng, đầy đủ, chứa các chất thiết yếu và chất khoáng (như calci, sắt, folat, magnesi) là đủ để loại trừ nguy cơ này.

6.3 Dùng PPI kéo dài liên quan đến tăng nhẹ nguy cơ gãy xương.

Ủy ban Phản ứng có hại của thuốc New Zealand (MARC) lưu ý rằng mối liên quan giữa sử dụng PPI và nguy cơ gãy xương trong phần lớn các nghiên cứu là nhỏ và hiện chưa cần có biện pháp can thiệp quản lý nào liên quan đến nguy cơ này.

Một nghiên cứu trên 15.000 trường hợp gãy xương liên quan đến loãng xương phát hiện tăng tỷ lệ gãy xương hông ở bệnh nhân sau 5 năm dùng PPI (tỷ số chênh hiệu chỉnh = 1,62) và nguy cơ tăng thêm nếu tiếp tục điều trị trong 7 năm (tỷ số chênh hiệu chỉnh = 4,55). Bệnh nhân dùng PPI nhiều hơn 7 năm cũng tăng nguy cơ gãy xương không phải xương hông (tỷ số chênh hiệu chỉnh = 1,92).

Tăng nguy cơ loãng xương nên được cân nhắc ở phụ nữ sau mãn kinh sử dụng PPI kéo dài, đặc biệt nếu bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ khác, như tiền sử gia đình có người bị loãng xương hoặc sử dụng corticoid kéo dài. Khi đó, có thể làm giảm nguy cơ này bằng cách dùng PPI ở liều thấp nhất có hiệu quả, hoặc dùng “khi cần” nếu phù hợp.

6.4 Hạ magnesi máu nặng liên quan đến việc sử dụng PPI trên một số ít bệnh nhân, có thể cải thiện khi ngừng PPI.

Năm 2012, Cơ quan Quản lý An toàn Thuốc và Thiết bị y tế New Zealand (Medsafe) đã khuyến cáo rằng hạ magnesi máu, và có thể giảm calci máu, là tác dụng bất lợi hiếm gặp của PPI. Omeprazol, ở mức liều 10-40 mg/ngày, là liều thường gặp nhất liên quan đến các thiếu hụt trên. Magnesi được biết đến có tác động ổn định nội môi của calci bằng cách giảm tiết hormon tuyến cận giáp, giảm đáp ứng của thận và xương với hormon tuyến cận giáp.

Bệnh nhân đang sử dụng PPI, có tiền sử nghiện rượu, có nguy cơ hạ magnesi máu tăng lên do tác dụng hiệp đồng của sử dụng ethanol mạn tính đến chức năng chuyển hóa. Sử dụng thuốc lợi tiểu, ciclosporin hoặc kháng sinh aminoglycosid đồng thời với PPI làm tăng nguy cơ hạ magnesi máu. Các triệu chứng của hạ magnesi máu thường không rõ ràng, có thể bao gồm chuột rút, yếu cơ, dễ bị kích thích hoặc lú lẫn.

Không khuyến cáo xét nghiệm magnesi định kỳ ở bệnh nhân dùng PPI. Trong trường hợp bệnh nhân đang sử dụng PPI kéo dài và có các triệu chứng không rõ nguyên nhân, tương tự các triệu chứng của hạ magnesi máu thì nên cân nhắc xét nghiệm magnesi máu. Tăng sử dụng đồ ăn giàu magnesi, ví dụ các loại hạt, rau mồng tơi, lúa mì, hoặc thực phẩm bổ sung có chứa magnesi có thể giúp cải thiện nồng độ magnesi máu trong quá trình điều trị bằng PPI.

6.5 Thiếu hụt vitamin B12 liên quan đến sử dụng PPI ở bệnh nhân cao tuổi.

Một số nghiên cứu cho thấy PPI làm giảm hấp thu vitamin B12 trong thức ăn. Ở bệnh nhân cao tuổi có chế độ dinh dưỡng kém, đang dùng PPI kéo dài, cần cân nhắc xét nghiệm vitamin B12 định kỳ.

Giảm natri máu liên quan đến việc sử dụng PPI gặp ở rất ít bệnh nhân, và thường gặp hơn ở người cao tuổi.

6.6 Viêm thận kẽ cấp tính liên quan đến thuốc ức chế bơm proton PPI

Tính đến tháng 6/2011, Trung tâm Theo dõi Phản ứng có hại của thuốc New Zealand (CARM)đã ghi nhận 65 trường hợp viêm thận kẽ liên quan đến việc sử dụng PPI. Viêm thận kẽ có thể dẫn đến tổn thương thận vĩnh viễn. Các triệu chứng và dấu hiệu gợi ý viêm thận kẽ bao gồm: sốt, nổi ban, tăng bạch cầu ái toan, khó chịu, đau cơ, đau khớp, giảm cân, thay đổi lượng nước tiểu, đái ra máu hoặc mủ có kèm hoặc không kèm theo tăng huyết áp.

NSAID cũng được biết đến khá rõ về nguy cơ gây độc thận, do đó, nên chú ý nghi ngờ hơn khả năng viêm thận kẽ ở bệnh nhân đang sử dụng NSAID có xuất hiện các triệu chứng này. Các yếu tố nguy cơ gây viêm thận kẽ khác bao gồm kháng sinh beta lactam (penicilin, cephalosporin), sulfonamid, thuốc lợi tiểu, bệnh lý nhiễm trùng, rối loạn miễn dịch hoặc ung thư. Trong trường hợp nghi ngờ viêm thận kẽ, cần soi nước tiểu và kiểm tra chức năng thận. Bệnh nhân cũng nên được gửi khám chuyên khoa thận. Để chẩn đoán xác định viêm thận kẽ, bắt buộc phải sinh thiết thận.

7. Tác dụng phụ của thuốc ức chế bơm Proton

Thuốc PPI là gì, cơ chế tác dụng của thuốc ức chế bơm proton PPI
Thuốc PPI là gì, cơ chế tác dụng của thuốc ức chế bơm proton PPI

Tác dụng phụ thường gặp nhất của thuốc ức chế bơm proton là:

  • Đau đầu
  • Rối loạn tiêu hóa: Biểu hiện bằng tình trạng đau bụng, táo bón hoặc tiêu chảy, đau bụng, đầy hơi
  • Buồn nôn và nôn ói
  • Sốt
  • Nổi phát ban gây ngứa ngáy ngoài da
  • Suy giảm chức năng gan thận, viêm tụy

Bên cạnh đó, thuốc PPI có thể làm tăng nguy cơ nhiễm Clostridium difficile ở ruột già. Liều cao và sử dụng lâu dài trên 1 năm có thể làm tăng nguy cơ loãng xương, gãy xương hông, cổ tay hoặc cột sống. Thuốc PPI cũng làm giảm khả năng hấp thu Vitamin B12 của cơ thể gây ra nhiều vấn đề như rối loạn thị giác, thay đổi vị giác, trí nhớ giảm sút, tê cứng tay chân…

Đặc biệt, phân tích bệnh nhân dùng PPI trong điều trị bệnh dạ dày một thời gian dài cho thấy có nguy cơ bị đau tim tăng lên đáng kể do ảnh hưởng của việc dùng thuốc.

Do đó, thuốc ức chế bơm Proton thường chỉ được chỉ định ở liều lượng thấp để điều trị bệnh trong ngắn hạn. Các bác sĩ chuyên khoa cũng tỏ ra khá thận trọng khi chỉ định loại thuốc này trong đơn thuốc của bệnh nhân.

8. Sự tương tác giữa thuốc ức chế bơm Proton với các loại thuốc khác

Sự có mặt của axit trong dạ dày giúp làm tăng khả năng hấp thu một số loại thuốc nên việc sử dụng thuốc PPI trong điều trị bệnh dạ dày có thể ảnh hưởng đến sự hấp thụ của các thuốc này. Cụ thể, PPI làm giảm sự hấp thu và nồng độ trong máu của Ketoconazole (Nizoral) và làm tăng sự hấp thu cũng như tăng nồng độ digoxin (Lanoxin). Điều này có thể làm giảm hiệu quả của Ketoconazole và tăng độc tính digoxin.

Quan ngại về khả năng tương tác giữa omeprazol và clopidogrel không chắc chắn có ý nghĩa lâm sàng. MARC đã đánh giá bằng chứng về tương tác giữa PPI và clopidogrel và kết luận rằng bằng chứng hiện có cho thấy PPI có thể ảnh hưởng đến hoạt tính của clopidogrel in vitro, nhưng điều này chưa ngoại suy được có dẫn đến hậu quả bất lợi có ý nghĩa lâm sàng. Không cần thiết phải thay đổi chế độ điều trị cho bệnh nhân đang sử dụng đồng thời một thuốc PPI và clopidogrel. Tuy nhiên, nếu bác sĩ đang cân nhắc kê đơn PPI và clopidogrel, thì khuyến cáo nên chọn pantoprazol do ít có tác dụng ức chế enzym CYP2C19 hơn so với omeprazol và lansoprazol.

PPI có thể làm tăng nhẹ tác dụng chống đông của warfarin hoặc giảm tác dụng này khi ngừng PPI. Bệnh nhân đang dùng warfarin nên được đánh giá trị số INR thường xuyên hơn khi bắt đầu dùng, hoặc ngừng PPI để đảm bảo không gặp tương tác có ý nghĩa lâm sàng

Thuốc ức chế bơm proton có thể làm giảm sự phân hủy của một số thuốc ở gan và làm tăng nồng độ của chúng trong máu. Chẳng hạn như thuốc ức chế bơm Proton Omeprazole có thể làm tăng nồng độ trong máu của Diazepam (Valium), Warfarin (Coumadin) và Phenytoin (Dilantin) hay làm giảm hiệu quả của Clopidogrel (Plavix). Như vậy những loại thuốc trên nên tránh được phối hợp cùng nhau để không gây những ảnh hưởng xấu cho bệnh tình cũng như sức khỏe của người sử dụng.

9. Các loại thuốc ức chế bơm Proton (PPI) trong điều trị bệnh dạ dày

Omeprazole (Prilosec, Prilosec OTC)

Thuốc có tác dụng ức chế sản xuất axit cực mạnh và giúp làm giảm được tới 80% lượng axit tiết ra. Việc sử dụng loại thuốc này với liều lượng 20mg mỗi ngày có thể giúp giảm nhanh các triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản và làm liền 70- 80% các vết loét trong dạ dày chỉ sau 2 tuần sử dụng.

Lansoprazole (Prevacid , Prevacid IV, Prevacid 24 giờ)

Đây là loại thuốc ức chế bơm Proton thế hệ 2 được sản xuất với hàm lượng 30mg. Nghiên cứu cho thấy sau 8 tuần sử dụng loại thuốc này tổn thương trong dạ dày có thể liền sẹo được hơn 80% và khoảng 21-43% số vi khuẩn Hp được loại bỏ.

Pantoprazole (Protonix)

Có hàm lượng 40mg, Pantoprazole được đánh giá khá cao nhờ có tác dụng nhanh và ít gây tác dụng phụ. Thực tế cho thấy sau 4 tuần sử dụng các vết loét trong dạ dày của bệnh nhân có thể liền sẹo tới 99%.

Rapeprazole

Loại thuốc PPI thuộc thế hệ thứ tư này có tác dụng mạnh hơn thuốc Omeprazole gấp 2- 10 lần và hiệu quả rõ rệt ngay sau lần đầu sử dụng. Bệnh nhân thường được chỉ định loại thuốc này trong vòng 4-6 tuần liên tục.

Eomeprazole (Nexium , Nexium IV, Nexium 24 giờ)

Eomeprazole được điều chế với các dạng 20mg hoặc 40mg. Loại thuốc này cho hiệu quả lâu dài và hiện đang được chỉ định rất rộng rãi cho hầu hết các trường hợp mắc bệnh.

10. Cách sử dụng thuốc ức chế bơm Proton

Bệnh nhân được khuyên nên uống nguyên viên bởi việc bẻ hay nghiền nát thuốc trước khi uống để giữ được toàn vẹn các dược chất cho trong thuốc không bị hòa tan khi gặp môi trường axit trong dạ dày.

Thời điểm dùng thuốc tốt nhất là trước bữa ăn 30 phút. Như vậy thuốc sẽ có đủ thời gian để phát huy tác dụng ức chế tiết quá nhiều axit dạ dày khi chúng ta nạp thức ăn vào.

11. Những điểm cần lưu ý về thuốc ức chế bơm proton PPI

– Rà soát toàn bộ các bệnh nhân đang dùng PPI kéo dài và đánh giá xem có nên tiếp tục sử dụng hay có thể giảm liều PPI hay không.

– Với bệnh nhân lần đầu dùng PPI, cần trao đổi với người bệnh về thời gian điều trị dự kiến và có kế hoạch giảm liều hoặc ngừng điều trị.

– Đa số bệnh nhân trong chăm sóc sức khỏe ban đầu không cần dùng omeprazol với liều khởi đầu 40 mg/ngày (hoặc tương đương).

– Rất ít bệnh nhân cần phải dùng omeprazol với liều 40 mg, hàng ngày, kéo dài.

– Cân nhắc chế độ liều “khi cần” có phù hợp hơn cho bệnh nhân đang dùng PPI hàng ngày hay không.

– Tư vấn để bệnh nhân nắm được về nguy cơ tăng tiết acid hồi ứng có thể xảy ra khi ngừng sử dụng PPI. Trong trường hợp đó, có thể dùng thuốc kháng acid như một thuốc “giải nguy” để làm giảm các triệu chứng.

**Lưu ý: Những thông tin về thuốc ức chế Proton bài viết cung cấp ở trên chỉ có giá trị tham khảo. Việc sử dụng thuốc với liều lượng ra sao và thời gian bao lâu sẽ do bác sĩ chỉ định tùy theo từng trường hợp mắc bệnh cụ thể. Người bệnh không nên tự ý mua thuốc về nhà uống sẽ không đảm bảo an toàn cho sức khỏe.

Theo: http://magazine.canhgiacduoc.org.vn/

Thuốc PPI là gì, cơ chế tác dụng của thuốc ức chế bơm proton PPI
Thuốc PPI là gì, cơ chế tác dụng của thuốc ức chế bơm proton PPI

II. Nguy cơ ung thư dạ dày do thuốc ức chế bơm proton PPI

Một nghiên cứu mới được công bố ngày 31/10/2017 của TS.Wai Keung Leung, Bệnh viện Queen Mary, Hồng Kông (Trung Quốc) và cộng sự cho thấy việc sử dụng các thuốc ức chế bơm proton (PPI – ví dụ omeprazol, pantoprazol…) để điều trị Helicobacter pylory có mối liên hệ với nguy cơ ung thư dạ dày của bệnh nhân.

Sử dụng một cơ sở dữ liệu lớn về sức khỏe ở Hồng Kông, TS. Leung và cộng sự đã so sánh nguy cơ xuất hiện ung thư dạ dày trên 63. 397 bệnh nhân sử dụng các thuốc PPI và các thuốc kháng histamin H2 (cimetidin, ranitidin…) sau khi sử dụng phác đồ kết hợp ba thuốc để điều trị H.pylory từ năm 2003 đến năm 2012.

Kết quả cho thấy, có 152 bệnh nhân (chiếm 0,24%) xuất hiện ung thư dạ dày sau điều trị H.pylory. Những bệnh nhân sử dụng PPI trong ít nhất một tuần có nguy cơ xuất hiện ung thư cao gấp đôi (tỷ số rủi ro HR 2,44), với số bệnh nhân mắc ung thư cao hơn 4,29 ca/10.000 người/năm.

Nguy cơ ung thư tăng lên khi sử dụng PPI kéo dài. Với bệnh nhân dùng nhiều hơn 1 năm, tỷ số rủi ro HR là 5,04, với bệnh nhân dùng nhiều hơn 2 năm, HR là 6,65 và HR là 8,34 với bệnh nhân dùng nhiều hơn 3 năm.

Tần suất sử dụng cũng là một yếu tố có liên quan, khi so sánh với bệnh dùng ít hơn 1 lần/tuần, tỷ số HR là 2,43 với bệnh nhân dùng hàng tuần, tăng lên 4,55 với bệnh nhân dùng hàng ngày. Kết quả vẫn có ý nghĩa thống kê khi tiến hành phân tích độ nhạy.

Nghiên cứu này có độ tin cậy cao do sử dụng một cơ sở dữ liệu lớn, lưu trữ đầy đủ những chẩn đoán và chỉ định thuốc của bệnh nhân, do đó làm giảm sai số lựa chọn, sai số thông tin và sai số nhớ lại. Tuy nhiên, do chỉ là một nghiên cứu quan sát nên chưa thể khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và nguy cơ gây ung thư.

Theo Suckhoedoisong

Thuốc PPI là gì, cơ chế tác dụng của thuốc ức chế bơm proton PPI
5 (100%) 3 votes
Loading...
Hãy tham gia thảo luận ngay bên dưới và cho chúng tôi biết ý kiến của bạn nhé !!! Tổng hợp kiến thức bệnh lý đau dạ dày, đau bao tử cần biết. Thông tin sức khỏe và đời sống, sức khỏe gia đình online.